Thị trường hàng hóa 19/9 biến động mạnh: dầu và khí tự nhiên giảm, vàng lập đỉnh mới, đồng và quặng sắt bật tăng, lúa mì và đậu tương suy yếu, cà phê lao dốc, đường hồi nhẹ, ca cao giữ giá cao.

Năng lượng: Dầu giảm, khí tự nhiên đi xuống
Phiên giao dịch cuối tuần khép lại với sự suy yếu của nhóm năng lượng. Chỉ số năng lượng NYSE giảm 1,1% và quỹ Energy Select Sector SPDR Fund (XLE) mất 1,3%. Giá dầu WTI lùi 1,36% xuống 62,4 USD/thùng, trong khi dầu Brent cũng giảm 1,13% xuống 66,68 USD/thùng. Hợp đồng khí tự nhiên Henry Hub hạ 1,2% còn 2,90 USD/MMBTU.
Trong khi đó, cổ phiếu dịch vụ dầu mỏ tại Mỹ điều chỉnh mạnh, với chỉ số Philadelphia Oil Service Index giảm 2,1%. Ngược lại, nhóm tiện ích có sự đi lên khi chỉ số Dow Jones Utilities tăng 0,6%.
Kim loại quý: Vàng lập đỉnh mới, bạc và bạch kim đi lên
Thị trường kim loại quý tiếp tục sôi động khi vàng hướng tới tuần tăng thứ năm liên tiếp. Giá vàng giao ngay tăng 0,69% lên 3.689,4 USD/ounce, từng chạm mức kỷ lục 3.707,40 USD sau quyết định hạ lãi suất 25 điểm cơ bản từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Giá vàng kì hạn tháng 12 trên sàn COMEX tăng 0,75% kết phiên ở 3.705,8 USD/ounce. Các chuyên gia dự báo xu hướng tăng vẫn còn dư địa, thậm chí vàng có thể tiến tới mốc 4.000 USD trước cuối năm.
Bên cạnh đó, bạc tăng 2,7% lên 42,94 USD/ounce, bạch kim cộng thêm 1,5% lên 1.405 USD/ounce, trong khi palladium giảm nhẹ 0,2% về 1.148 USD/ounce.
Kim loại cơ bản: Đồng bật tăng, quặng sắt phục hồi, nhôm và kẽm suy yếu
Giá đồng trên sàn COMEX tăng 0,59%, kết phiên ở 4.6275 USD/tấn. Giá đồng trên sàn London đi lên nhờ nhu cầu cải thiện từ Trung Quốc trước kỳ nghỉ lễ dài ngày. Đồng giao ba tháng tăng 0,4% lên 9.980 USD/tấn, với premium nhập khẩu tại cảng Dương Sơn tăng 1,8% phản ánh lực mua tích trữ. Dự báo đồng sẽ dao động trong vùng 9.500 – 10.500 USD/tấn quý IV và có thể chạm 12.000 USD vào năm 2026.
Trên thị trường quặng sắt, giá tại Đại Liên và Singapore đồng loạt tăng trở lại sau chuỗi phiên điều chỉnh. Nguyên nhân đến từ kỳ vọng chính sách kích thích kinh tế mới tại Trung Quốc sẽ thúc đẩy nhu cầu thép xây dựng, trong khi tồn kho tại các cảng duy trì xu hướng giảm. Hợp đồng quặng sắt kỳ hạn tháng 1 trên sàn Đại Liên nhích lên quanh 890 CNY/tấn, còn giá hợp đồng quặng sắt Singapore tháng 10 tăng 0,76%, kết phiên ở 107,35 USD/tấn.
Trong khi đó, nhôm giảm 0,5% xuống 2.671 USD/tấn sau khi đạt đỉnh 6 tháng hồi đầu tuần. Kẽm cũng giảm 1,1% xuống 2.885 USD/tấn, còn chì và nickel điều chỉnh nhẹ. Trái lại, thiếc tăng 1,2% lên 34.130 USD/tấn.
Ngũ cốc: Lúa mì và đậu tương giảm, ngô giữ đà đi lên
Thị trường ngũ cốc chịu áp lực từ nguồn cung dồi dào toàn cầu và diễn biến ngoại giao Mỹ – Trung. Lúa mì Chicago giảm còn 5,22 USD/giạ do triển vọng mùa vụ tại Úc cải thiện và đồng USD mạnh lên. Đậu tương cũng giảm sâu về 10,25 USD/giạ sau cuộc điện đàm giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình không mang lại tiến triển mới về xuất khẩu nông sản.
Ngược lại, giá ngô duy trì được sắc xanh khi USDA ghi nhận thêm đơn hàng hơn 206.000 tấn cho khách hàng không công bố, nhiều khả năng đến từ Trung Quốc.
Cà phê và nông sản mềm: Arabica lao dốc, ca cao giữ nền giá cao
Cà phê arabica ICE giảm 3,7% xuống 3,46 USD/pound, đánh dấu tuần mất hơn 12% do triển vọng thời tiết thuận lợi tại Brazil cùng lực bán chốt lời từ giới đầu cơ. Robusta ICE London cũng giảm mạnh 7%, đóng cửa ở mức 4.135 USD/tấn.
Trong khi đó, đường thế giới hồi phục nhẹ với hợp đồng tháng 10 tăng 0,5% lên 15,46 cent/pound, nhưng tính chung cả tuần vẫn giảm 2% do nguồn cung Brazil và châu Á dồi dào. Ca cao London tăng 0,8% lên 5.058 bảng/tấn, ca cao New York nhích 0,4% lên 7.229 USD/tấn, giữ vững mặt bằng giá cao nhờ lo ngại nguồn cung hạn chế.
Thị trường bông tiếp tục đi xuống, với hợp đồng tháng 12 giảm 61 điểm xuống 66,29 cent/pound, khép lại tuần mất hơn 0,8%. USD mạnh và dầu suy yếu gây áp lực lớn lên nhóm sợi vải.




