Thị trường ngũ cốc toàn cầu tiếp tục chịu tác động đan xen từ thời tiết, xuất khẩu và chính sách. Lúa mì đối mặt rủi ro rét đậm kéo dài tại Mỹ và Nga. Đậu tương ghi nhận bức tranh phân hóa khi Nam Mỹ vừa cải thiện triển vọng sản lượng, vừa đối mặt rủi ro thời tiết và logistics, trong khi nhu cầu quốc tế biến động. Ngô được nâng đỡ rõ rệt nhờ doanh số xuất khẩu Mỹ tăng vọt, dù kỳ vọng dài hạn từ nhiên liệu sinh học chưa có thêm động lực mới.
_5.webp)
Lúa mì
Đợt tuyết rơi hiện nay được kỳ vọng sẽ góp phần cải thiện tình trạng khô hạn tại khu vực đồng bằng Đông Nam. Trong tuần qua, tỷ lệ diện tích lúa mì đông của Mỹ nằm trong vùng hạn hán tăng thêm 1 điểm phần trăm, lên 42%, tiến sát mức đỉnh 52 tuần là 45%.
Doanh số xuất khẩu lúa mì hàng tuần của Hoa Kỳ đạt 23 triệu giạ, vượt kỳ vọng thị trường. Nhờ đó, tổng cam kết xuất khẩu lũy kế nâng lên 768 triệu giạ, tăng 18% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn đáng kể so với mức tăng 9% mà USDA dự báo. Hiện các cam kết đã đạt 85% kế hoạch của USDA, so với mức trung bình lịch sử khoảng 80%, làm gia tăng khả năng USDA sẽ điều chỉnh tăng dự báo trong báo cáo tháng 2/2026.
Rủi ro rét đậm kéo dài đối với lúa mì đông đang trong giai đoạn ngủ đông tại Mỹ được dự báo sẽ tiếp diễn cho đến hết tháng Hai. Các mô hình thời tiết cho thấy lúa mì HRW tại khu vực Trung tâm Hoa Kỳ có thể đối mặt với nguy cơ lạnh giá cao trong bối cảnh lớp tuyết che phủ không đủ dày, qua đó làm tăng khả năng thiệt hại cây trồng.
Ở chiều thuận lợi, một số khu vực Trung Tây và miền Đông nước Mỹ có thể ghi nhận lượng mưa đáng kể, giúp cải thiện độ ẩm đất. Tuy vậy, độ tin cậy của dự báo nhiệt độ tại các bang phía Đông vẫn ở mức thấp, khiến yếu tố thời tiết tiếp tục là rủi ro cần được theo dõi sát sao trong thời gian tới.
Bộ Nông nghiệp Nga cho biết sẽ tiếp tục duy trì mức thuế xuất khẩu bằng 0 ít nhất đến ngày 3/2.
Theo Sovecon, dự báo sản lượng lúa mì Nga năm nay, hiện ở mức 83,8 triệu tấn, có nguy cơ bị điều chỉnh giảm nếu đợt rét đậm hiện tại kéo dài từ một tuần trở lên. Đơn vị này đang theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, đặc biệt là khả năng nhiệt độ duy trì trong khoảng −20°C đến −25°C trong thời gian dài, yếu tố có thể gây rủi ro nghiêm trọng cho cây trồng và buộc phải hạ triển vọng sản lượng.
LSEG Research & Analysis đã nâng dự báo sản lượng lúa mì Argentina niên vụ 2025/26 lên 27,1 triệu tấn, trong biên độ 26,5–27,8 triệu tấn, cao hơn 9% so với lần cập nhật trước. Việc điều chỉnh tăng chủ yếu nhờ điều kiện thời tiết cuối vụ thuận lợi hơn dự kiến, độ ẩm đất đảm bảo trong giai đoạn sinh trưởng quan trọng và tiến độ thu hoạch diễn ra nhanh chóng.
Iraq dự kiến sẽ bán ra 500.000 tấn lúa mì từ kho dự trữ sau khi được nội các phê duyệt phương án tiêu thụ lượng tồn dư, với mức giá 415.000–420.000 dinar/tấn, tương đương khoảng 318 USD/tấn. Sản lượng lúa mì nội địa năm nay của Iraq ước đạt khoảng 4 triệu tấn, thấp hơn các năm trước do tình trạng thiếu nước, so với mức hơn 5 triệu tấn của năm ngoái.
Đậu tương
Theo BAGE, tiến độ gieo trồng đậu tương tại Argentina đã đạt 96%. Tuy nhiên, tỷ lệ cây trồng được đánh giá tốt/xuất sắc giảm 8 điểm phần trăm, xuống còn 53%, dù vẫn cao hơn đáng kể so với mức 26% cùng kỳ năm trước.
Doanh số xuất khẩu đậu tương hàng tuần của Hoa Kỳ đạt 90 triệu giạ, phù hợp với kỳ vọng nhưng là mức cao nhất trong vòng hai năm. Tổng cam kết xuất khẩu lũy kế hiện đạt 1,214 tỷ giạ, giảm 22% so với cùng kỳ, sâu hơn mức giảm 16% mà USDA dự báo. Riêng lượng bán sang Trung Quốc đạt 1,304 triệu tấn (48 triệu giạ), nâng tổng khối lượng bán lên 9,42 triệu tấn, tiến gần mức 12 triệu tấn được cho là đã mua. Trung Quốc đã hủy toàn bộ lượng mua vụ mới 2026/27 với khối lượng 66.000 tấn, đưa cam kết của niên vụ này về 0. Các điểm đến đáng chú ý khác của vụ cũ gồm các nước không xác định (12 triệu giạ), Ai Cập và Mexico, mỗi nước khoảng 7–8 triệu giạ.
Doanh số bán khô đậu nành đạt 413.000 tấn, nâng tổng cam kết từ đầu niên vụ lên 9,806 triệu tấn, tăng 11% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng 5% mà USDA dự báo. Trong khi đó, cam kết xuất khẩu dầu đậu nành đạt 691 triệu pound, giảm 53% so với cùng kỳ, phù hợp với dự báo của USDA.
Thị trường hiện vẫn chờ phán quyết từ Tòa án Tối cao Mỹ liên quan đến việc chính quyền Trump sử dụng thuế quan. RVO cuối cùng cũng như khả năng tái phân bổ SRE từ EPA được cho là sẽ chưa xuất hiện trước đầu tháng 3.
Khu vực miền Trung Brazil tiếp tục đón nhận lượng mưa thuận lợi, hỗ trợ tích cực cho đậu tương đang trong giai đoạn sinh trưởng. Ngược lại, vùng Trung–Nam vẫn chịu ảnh hưởng của khô hạn kéo dài, với khả năng tiếp diễn sang tuần tới. Một số khu vực trồng đậu tương trọng điểm có thể bị tác động, làm gia tăng rủi ro suy giảm năng suất cục bộ. Đồng thời, độ ẩm đất hiện còn thấp đối với vụ ngô safrinha dự kiến gieo trồng sau khi thu hoạch đậu tương trong vài tuần tới, tiềm ẩn rủi ro cho giai đoạn đầu vụ.
Hiệp hội Công nghiệp Dầu thực vật Brazil (Abiove) đã nâng dự báo sản lượng ép dầu đậu nành của Brazil năm 2026 lên mức kỷ lục 61 triệu tấn, tăng 0,8% so với ước tính đưa ra hồi tháng 11, đồng thời cao hơn mức thực hiện của năm trước.
Theo Abiove, sản lượng khô đậu nành được dự báo đạt 47 triệu tấn, tăng so với mức 46,6 triệu tấn trước đó, trong khi sản lượng dầu đậu nành ước đạt 12,3 triệu tấn, nhỉnh hơn mức 12,2 triệu tấn. Những điều chỉnh này phản ánh triển vọng tích cực của ngành chế biến đậu nành Brazil trong năm tới.
Hedgepoint dự báo sản lượng đậu nành Brazil niên vụ 2025/26 đạt 179,5 triệu tấn, tăng so với mức ước tính trước là 178 triệu tấn.
Theo đánh giá của các nhà giao dịch Brazil, xuất khẩu đậu nành trong tháng 1 có thể thấp hơn kỳ vọng do tiến độ thu hoạch không nhanh như thị trường dự đoán ban đầu. Hiệp hội các nhà xuất khẩu ngũ cốc Brazil (Anec) đang xem xét điều chỉnh lại dự báo 3,8 triệu tấn, thừa nhận khối lượng thực tế có thể chỉ quanh mức 3 triệu tấn khi hoạt động bốc xếp chậm lại vào cuối tháng do các vướng mắc logistics.
Một số thương nhân thậm chí cho rằng lượng xuất khẩu trong tháng 1 của Brazil chỉ khoảng 2 triệu tấn, cho rằng kỳ vọng về vụ thu hoạch sớm đã bị thổi phồng. Thực tế, trong ba tuần đầu tháng 1, Brazil đã xuất khẩu 1,307 triệu tấn, cao hơn cùng kỳ năm trước nhưng chưa cho thấy sự bứt phá rõ rệt.
Ấn Độ đang đẩy mạnh việc hủy các hợp đồng nhập khẩu dầu đậu nành từ Nam Mỹ do đồng rupee suy yếu xuống mức thấp kỷ lục, khiến giá dầu nhập khẩu trở nên kém cạnh tranh so với nguồn cung nội địa. Theo các doanh nghiệp trong ngành, khoảng 35.000–40.000 tấn dầu từ Brazil và Argentina đã bị hủy, và tổng khối lượng hủy có thể vượt 50.000 tấn, nối tiếp đợt hủy hơn 100.000 tấn trong tháng 12.
Ngô
Quy định cho phép bán xăng E-15 quanh năm đã không được đưa vào dự luật cuối cùng tại Hạ viện Mỹ trong phiên bỏ phiếu ngày hôm qua. Đây vốn được xem là yếu tố có thể tạo cú hích dài hạn cho nhu cầu ngô, vốn đã bị “neo” quanh mức 5,50–5,60 tỷ giạ suốt gần một thập kỷ.
Theo BAGE, tiến độ gieo trồng ngô tại Argentina đạt 93%, thấp hơn mức 98% cùng kỳ năm trước. Cơ quan này cho biết một phần diện tích tại miền Bắc có khả năng sẽ được chuyển sang trồng đậu tương.
Doanh số xuất khẩu ngô hàng tuần của Hoa Kỳ đạt 158 triệu giạ, cao vượt trội so với kỳ vọng và là mức cao nhất trong vòng 5 năm. Tổng cam kết xuất khẩu từ đầu niên vụ đạt 2,206 tỷ giạ, tăng 34% so với cùng kỳ, trong khi USDA chỉ dự báo mức tăng 12%. Hiện các cam kết tương đương 69% kế hoạch của USDA, cao hơn đáng kể so với mức trung bình lịch sử 57%. Trong tuần, lượng bán bao gồm 49 triệu giạ sang điểm đến không xác định, 33 triệu giạ sang Nhật Bản và 30 triệu giạ sang Hàn Quốc.
Theo báo cáo dầu mỏ hàng tuần của Bộ Năng lượng Hoa Kỳ, tồn kho ethanol của Mỹ đã tăng 5,2%, lên 25,739 triệu thùng, cao hơn mức dự báo thị trường là 24,821 triệu thùng. Sản lượng ethanol đạt 1,119 triệu thùng/ngày, nhỉnh hơn mức trung bình khảo sát 1,113 triệu thùng/ngày, cho thấy hoạt động sản xuất ethanol vẫn đang duy trì ở mức cao.




