Sau 40 năm Đổi mới, vai trò của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi. Nếu như giai đoạn đầu Đổi mới, khu vực này đóng góp trên 40% GDP thì hiện nay tỷ trọng chỉ còn khoảng một nửa. Tuy vậy, xét về quy mô tuyệt đối, doanh thu của khu vực kinh tế nhà nước đã tăng mạnh, gấp khoảng 7 lần so với hai thập kỷ trước.
.webp)
Theo Nghị quyết 79 của Bộ Chính trị, kinh tế nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, là công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết vĩ mô, định hướng phát triển, đồng thời hoạt động bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác. Từ sau năm 1986, khu vực này luôn đóng vai trò dẫn dắt và ổn định nền kinh tế, dù tỷ trọng GDP giảm dần cùng tiến trình cổ phần hóa, sự vươn lên của khu vực tư nhân và làn sóng FDI.
Hiện nay, kinh tế nhà nước – bao gồm đất đai, dự trữ quốc gia, doanh nghiệp nhà nước và phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp – đóng góp khoảng 20% GDP và 10% tổng thu ngân sách. Dù tỷ trọng giảm, giá trị tuyệt đối vẫn tăng mạnh: doanh thu thuần hàng năm của khối doanh nghiệp nhà nước tăng từ khoảng 610.000 tỷ đồng lên hơn 4,3 triệu tỷ đồng; thu ngân sách từ khu vực này cũng tăng gần 5 lần, vượt 180.000 tỷ đồng.
Kinh tế nhà nước giữ vai trò then chốt trong các ngành chiến lược như năng lượng, khai khoáng, viễn thông, hạ tầng giao thông, vận tải… với sự hiện diện chi phối của vốn Nhà nước tại nhiều tập đoàn lớn như Petrovietnam, EVN, Viettel hay Vietnam Airlines. Trong lĩnh vực ngân hàng, bốn “ông lớn” quốc doanh nắm khoảng 43% tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế.
Tuy nhiên, Bộ Chính trị và Chính phủ thừa nhận hiệu quả hoạt động của khu vực này chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ. Cơ chế, chính sách chậm đổi mới; quản lý và sử dụng vốn, tài sản nhà nước còn hạn chế; một bộ phận doanh nghiệp thua lỗ kéo dài, gây lãng phí và thất thoát. Doanh nghiệp nhà nước vừa phải tuân thủ Luật Doanh nghiệp, vừa chịu các quy định chặt chẽ về quản lý vốn và đầu tư công, khiến tính linh hoạt và năng động bị hạn chế.
Theo các chuyên gia, tư duy quản lý vốn nhà nước thiên về bảo toàn, tránh rủi ro đã khiến nhiều doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội đầu tư. Điều này thể hiện rõ qua hiệu quả sử dụng vốn thấp hơn so với khu vực tư nhân và FDI, với chỉ số ICOR của khu vực công cao hơn đáng kể. Báo cáo của Chính phủ cho biết, đến cuối năm 2024 vẫn còn 164 doanh nghiệp nhà nước lỗ lũy kế hơn 106.000 tỷ đồng.
Ngoài ra, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp nhà nước còn phân tán, thiếu liên kết, vốn chủ yếu tập trung vào hạ tầng và vận tải, trong khi các lĩnh vực khác chiếm tỷ trọng nhỏ. Để tháo gỡ những “điểm nghẽn” này, Nghị quyết 79 nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, khuyến khích sáp nhập, hợp nhất, chuyển giao và tăng vốn từ cổ phần hóa, thoái vốn và lợi nhuận giữ lại.
Thực tế, số lượng doanh nghiệp có vốn nhà nước đang giảm dần theo lộ trình cổ phần hóa, nhưng nhiều ý kiến cho rằng Nhà nước cần mạnh dạn thoái vốn hơn nữa ở các lĩnh vực không mang tính chiến lược. Khu vực nhà nước nên tập trung vào những ngành thiết yếu như an ninh năng lượng, công ích, phúc lợi xã hội và các dự án hạ tầng lớn, dài hạn mà tư nhân khó tham gia, đồng thời đảm bảo giữ quyền kiểm soát các lĩnh vực then chốt.
Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030 có 50 doanh nghiệp nhà nước lọt top 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và 1–3 doanh nghiệp vào top 500 toàn cầu, cùng ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước nằm trong nhóm 100 ngân hàng lớn nhất châu Á. Hiện Việt Nam có 76 doanh nghiệp trong bảng xếp hạng Fortune Southeast Asia 500, trong đó 20 doanh nghiệp do Nhà nước nắm quyền chi phối, với Petrovietnam và Petrolimex giữ thứ hạng cao trong khu vực.




