Giá tiêu trong nước ngày 25/02 đồng loạt giảm từ 1.000–2.000 đồng/kg, kéo mức bình quân xuống 148.500 đồng/kg do lực bán gia tăng. Trong khi đó, thị trường thế giới ổn định, còn Ấn Độ đối mặt áp lực dư cung khi nhập khẩu tăng mạnh giữa bối cảnh sản lượng nội địa sụt giảm.

Diễn biến giá tiêu trong nước ngày 25/02/2026
Giá tiêu trong nước ngày 25/02/2026 đồng loạt điều chỉnh giảm, đưa mức trung bình toàn thị trường xuống còn 148.500 đồng/kg, giảm 1.500 đồng/kg so với hôm qua.
| Khu vực | Giá trung bình | Thay đổi |
| Gia Lai | 148,000 | -1,000 |
| Bà Rịa - Vũng Tàu | 148,500 | -1,500 |
| Đắk Lắk | 149,000 | -2,000 |
| Bình Phước | 148,000 | -1,000 |
| Đắk Nông | 149,000 | -2,000 |
Cụ thể, Gia Lai và Bình Phước cùng giảm 1.000 đồng xuống 148.000 đồng/kg; Bà Rịa – Vũng Tàu giảm 1.500 đồng còn 148.500 đồng/kg; Đắk Lắk và Đắk Nông giảm mạnh nhất 2.000 đồng, hiện giao dịch ở mức 149.000 đồng/kg. Diễn biến này cho thấy lực bán gia tăng trong khi hoạt động thu mua có phần chững lại, khiến giá tiêu lùi khỏi mốc 150.000 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới
Khép lại phiên giao dịch mới nhất, thị trường hồ tiêu toàn cầu nhìn chung không xuất hiện biến động đáng kể.
Theo số liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen xuất khẩu của Indonesia vẫn duy trì ở mức 6.899 USD/tấn. Tiêu đen Brazil loại ASTA 570 được chào bán ở mức 6.125 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia tiếp tục neo tại 9.100 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu giữ ổn định trong khoảng 6.400 – 6.600 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 550 g/l. Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia đạt 9.247 USD/tấn. Malaysia và Việt Nam lần lượt báo giá tiêu trắng ở mức 12.100 USD/tấn và 9.150 USD/tấn.
Cập nhật thông tin hồ tiêu
Tại miền Nam Ấn Độ, nông dân đang bước vào giai đoạn cuối của vụ thu hoạch với sản lượng sụt giảm. Đầu tháng này, họ từng lạc quan khi giá tiêu liên tục tăng, dao động 680–700 rupee/kg đối với cả tiêu phân loại và chưa phân loại đến cuối tháng 1, thậm chí vượt mốc 700 rupee/kg vào đầu tháng.
Tại chợ đầu mối Kochi, giá tiêu đã phân loại từng chạm 728 rupee/kg vào ngày 14/2 khi tuần giao dịch khép lại.
Do sản lượng niên vụ năm nay giảm khoảng 20–30% vì thời tiết bất lợi, phần lớn người trồng kỳ vọng xu hướng tăng giá sẽ tiếp diễn. Tuy nhiên, tâm lý tích cực nhanh chóng suy giảm khi lượng tiêu nhập khẩu thiếu kiểm soát khiến nguồn cung tăng mạnh, kéo giá đi xuống.
Dữ liệu từ Hiệp hội Thương mại Tiêu và Gia vị Ấn Độ (IPSTA) cho thấy giá đã giảm 900 rupee mỗi tạ (100 kg) trong tuần trước.
Mặc dù vụ thu hoạch tại các vùng trọng điểm như Wayanad, Nilgiris và Coorg gần заверш, lượng hàng đổ về chợ Kochi vẫn ở mức thấp. Trong tuần kết thúc ngày 21/2, chỉ có 277 tấn tiêu được đưa về chợ, tăng nhẹ 34 tấn so với tuần trước đó.
Ông Kishore Shamji, Giám đốc IPSTA, cho biết nhu cầu từ các doanh nghiệp chế biến gia vị đang ở mức cao và nhiều đơn vị thu mua trực tiếp tại vùng trồng, làm giảm khối lượng giao dịch tại chợ đầu mối.
Theo các báo cáo tại nông trại, sản lượng năm nay thấp hơn đáng kể so với năm trước. Ban đầu, sản lượng được dự báo đạt 110.000 tấn, sau đó điều chỉnh xuống 85.000 tấn và hiện ước tính còn khoảng 75.000 tấn, phù hợp với thực tế sản xuất.
Tại Idukki và Wayanad, hồ tiêu ngày càng trở thành cây trồng phụ. Nông dân Idukki chuyển hướng sang bạch đậu khấu, còn tại Wayanad, cà phê đang dần thay thế hồ tiêu.
Các chuyên gia nhận định đà giảm giá gần đây chủ yếu xuất phát từ việc nhập khẩu khối lượng lớn tiêu giá rẻ. Theo IPSTA, Ấn Độ đã nhập 35.557 tấn tiêu đen trong năm 2024 và 29.269 tấn trong năm 2025.
Trong khi sản lượng nội địa hàng năm dao động 50.000–75.000 tấn và nhu cầu tiêu thụ khoảng 79.000 tấn/năm, xuất khẩu giai đoạn 2024–2025 đạt 19.000 tấn. Chênh lệch giữa sản xuất và tiêu dùng nội địa tạo dư địa cho hoạt động nhập khẩu.
Năm nay, 1.571 tấn tiêu được nhập theo diện cho phép nhằm phục vụ chế biến tái xuất, trong đó 585 tấn cập cảng Kochi và 312 tấn qua Vallarpadam. Sri Lanka là nguồn cung lớn nhất trong tháng 1 với 785 tấn, chiếm khoảng 50% tổng lượng nhập, tiếp theo là Việt Nam với 485 tấn.
Theo quy định, lượng tiêu này phải được tái xuất sau khi chế biến trong vòng 6 tháng đến 1 năm. Tuy nhiên, giới thương nhân cho rằng phần lớn hàng nhập đã bị đưa vào tiêu thụ nội địa để hưởng chênh lệch giá, làm gia tăng nguồn cung và gây áp lực giảm giá trên thị trường trong nước.




