Thị trường kim loại và năng lượng ngày 02/10/2026 chịu tác động từ rủi ro nợ công, căng thẳng địa chính trị, nguồn cung dầu và triển vọng đồng, vàng.
Kinh tế vĩ mô
1. Chênh lệch lợi suất trái phiếu chính phủ Pháp kỳ hạn 10 năm so với Đức đã lên khoảng 135 điểm cơ bản - mức lớn nhất kể từ cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu cách đây 14 năm.
Theo tương quan giữa xếp hạng tín nhiệm S&P và chênh lệch lợi suất, mức này tương ứng với hạng BBB-, chỉ cách ngưỡng "trái phiếu rác" một bậc, trong khi xếp hạng thực tế của Pháp vẫn ở nhóm A.
Chênh lệch của Pháp hiện cao hơn cả Italy (khoảng 112 điểm cơ bản) và Hy Lạp (khoảng 96 điểm cơ bản), dù hai nước này có xếp hạng thấp hơn. Thị trường đang định giá rủi ro tín dụng của Pháp thấp hơn nhiều so với xếp hạng chính thức, làm gia tăng nguy cơ hạ bậc và củng cố nhu cầu phòng hộ bằng vàng trước rủi ro nợ công châu Âu.

2. Đầu tư phát triển bất động sản 8 tháng đầu năm của Trung Quốc giảm 19.9% so với cùng kỳ, mức tệ nhất kể từ 1999 và là tháng thứ 49 liên tiếp tăng trưởng âm. Dư nợ vay trung và dài hạn mới của hộ gia đình âm 82.2 tỷ NDT trong tháng 8, giá nhà thứ cấp tại 70 thành phố lớn vẫn giảm 5.1%. Bất động sản chưa chạm đáy tiếp tục kìm hãm nhu cầu đồng trong xây dựng.

3. Theo ISW, Nga mất kiểm soát gần 300 km² lãnh thổ trong giai đoạn tháng 3 - tháng 9/2026, gồm ít nhất 147 km² do chiến dịch Vivaldi của Ukraine giải phóng, và chịu hơn 46000 thương vong trong tháng 9, mức cao nhất năm 2026, mà gần như không giành thêm lãnh thổ. Nga tập kích cầu Nam tại Kyiv và phóng 204 UAV trong ngày 30/9 - 1/10, trong khi Ukraine lần đầu sử dụng tên lửa đạn đạo chiến thuật FP-7 và tiếp tục tấn công hạ tầng dầu mỏ của Nga.
Xung đột kéo dài với các đòn đánh trả đũa vào hạ tầng năng lượng hai bên tiếp tục duy trì phần bù rủi ro trên giá dầu và nhu cầu trú ẩn vào vàng.

4. Theo dữ liệu theo dõi tàu của Bloomberg, Iran không xuất khẩu được thùng dầu thô nào trong tháng 9, giảm từ khoảng 250000 thùng/ngày trong tháng 8 và so với mức khoảng 1.5 - 1.9 triệu thùng/ngày trong năm 2025.
Diễn biến này cho thấy Iran ngày càng ít khả năng hoặc ít sẵn sàng thách thức lệnh phong tỏa của hải quân Mỹ tại các cảng vùng Vịnh Ba Tư. Nguồn cung Iran gần như biến mất khỏi thị trường, khiến đà phục hồi của Saudi Arabia và Iraq chỉ đủ lấp một phần khoảng trống, qua đó duy trì phần bù rủi ro địa chính trị trên giá dầu.

5. Theo số liệu EIA, sản lượng dầu thô khu vực 48 bang lục địa của Mỹ (không tính vùng Vịnh Mexico thuộc liên bang) trong tháng 7/2026 chỉ tăng 0.04 triệu thùng/ngày so với cùng kỳ. Đây là mức tăng thấp nhất trong chuỗi số liệu từ 2008, chỉ xếp trên các năm sản lượng sụt giảm 2009, 2016 và 2020, và giảm mạnh so với mức tăng 0.45 triệu thùng/ngày của năm 2025.
Các nhà sản xuất Mỹ đang ưu tiên kiểm soát chi phí, đầu tư thận trọng và gia tăng lợi nhuận cho cổ đông thay vì mở rộng sản lượng. Điều này khiến nguồn cung đá phiến khó trở thành yếu tố bù đắp thiếu hụt, tạo lực đỡ cho giá dầu trong trung hạn

Thị trường hàng hóa
1. Dù giá hàng hóa tăng mạnh trong năm và thị trường trái phiếu biến động dữ dội, vàng vẫn chưa phát huy vai trò như kỳ vọng. Một phần nguyên nhân là ngân hàng trung ương Thổ Nhĩ Kỳ đã bán 69.1 tấn vàng chỉ trong một tuần của tháng 3, tương đương khoảng 9% dự trữ vàng của nước này.
Trong khủng hoảng, vàng với tính thanh khoản cao thường bị bán ra đầu tiên để huy động vốn, cho thấy rủi ro các ngân hàng trung ương chịu áp lực tỷ giá trở thành bên bán ròng, làm suy yếu lực đỡ từ khu vực chính thức.

2. Sản lượng đồng mỏ của Chile năm 2025 đạt khoảng 5.4 triệu tấn, gần như đi ngang suốt hai thập kỷ và thấp hơn đỉnh khoảng 5.8 triệu tấn năm 2018. Trong đó, sản lượng đồng cathode tinh luyện trực tiếp (SX-EW) giảm từ khoảng 2.1 triệu tấn quanh năm 2010 xuống khoảng 1.1 triệu tấn.
Cơ cấu xuất khẩu cũng dịch chuyển rõ: tính đến tháng 8/2026, quặng và tinh quặng đồng chiếm khoảng 35% kim ngạch xuất khẩu của Chile, còn sản phẩm đồng tinh luyện chỉ khoảng 19%.
Dù vốn đầu tư liên tục tăng, sản lượng chỉ có thể giữ nguyên do hàm lượng quặng suy giảm khiến chi phí khai thác mỗi tấn đồng ngày càng đắt đỏ, tạo nền tảng hỗ trợ giá đồng trong dài hạn.

3. Trong tháng 9, giá vàng và nhu cầu đầu tư phân kỳ rõ rệt. Vàng chịu áp lực từ lợi suất trái phiếu Mỹ tăng vọt, nhưng lượng vàng nắm giữ của các quỹ ETF theo dữ liệu Bloomberg vẫn tăng tháng thứ hai liên tiếp, lên 3139.3 tấn, vượt đỉnh hồi tháng 2. Dòng tiền ETF bền bỉ cho thấy giới đầu tư đang nhìn xa hơn tác động ngắn hạn của lợi suất thực, hướng tới rủi ro bền vững tài khóa và nợ công.
Khi lợi suất ổn định và áp lực lạm phát năng lượng hạ nhiệt, lực cầu đầu tư vốn đã vững vàng trong môi trường lãi suất bất lợi có thể trở thành động lực tăng mạnh cho vàng.





