Ngày 28/8/2026, thị trường kim loại duy trì đà tăng, trong khi năng lượng chịu tác động từ rủi ro nguồn cung và căng thẳng địa chính trị. Dòng vốn vào vàng tiếp tục tăng mạnh.
Diễn biến thị trường
1. Giá vàng hiện giao dịch quanh 4.664,4 USD/ounce, đi ngang với biên độ hẹp 0,01%, dao động 4.623,0 - 4.667,7 trong phiên. Giá đang giằng co ngay dưới vùng kháng cự 4.690 - 4.700, trên nền hỗ trợ gần là vùng 4.500. Giá vẫn nằm trên SMA20 (4.475,0) và còn cách khá xa biên trên Bollinger (4.817,4), cho thấy dư địa tăng vẫn còn nếu bứt qua kháng cự. Giữ trên 4.500 thì xu hướng tăng còn nguyên; vượt dứt khoát 4.700 sẽ mở đường hướng lại vùng đỉnh cũ 4.800.

2. Giá bạc hiện giao dịch quanh 71,485 USD/ounce, tăng 1,77%, dao động 69,215 - 71,775 trong phiên. Giá đã vượt lên trên vùng kháng cự cũ quanh 70 và đang tiến gần vùng kháng cự lớn tiếp theo 88 - 92. Giá nằm trên SMA20 (66,279), còn dư địa so với biên trên Bollinger (72,860). Hỗ trợ gần nhất tại vùng 64, xa hơn là vùng tích lũy 60 - 64. Giữ trên 64 thì xu hướng tăng còn nguyên và có thể mở rộng lên vùng 88 - 92.

3. Giá bạch kim hiện giao dịch quanh 1.884,8 USD/ounce, tăng 1,67%, dao động 1.842,1 - 1.893,9 trong phiên. Giá đang tiến sát vùng kháng cự tham chiếu quanh 1.900 - 1.920, trên nền hỗ trợ vừa thoát ra ở vùng 1.750 - 1.800. Giá nằm trên SMA20 (1.789,8), còn dư địa tới biên trên Bollinger (1.923,2). Giữ trên 1.800 thì xu hướng tăng còn nguyên và có thể hướng thử thách vùng kháng cự lớn 2.150 - 2.200.

4. Giá đồng hiện giao dịch quanh 6,7075 USD/pound, tăng nhẹ 0,28%, dao động 6,6725 - 6,7170 trong phiên. Giá đang giằng co trong kênh tăng dài hạn, giữa vùng hỗ trợ 6,60 - 6,65 và kháng cự 6,75 - 6,90. Giá bám sát SMA20 (6,7024), biên trên Bollinger ở 6,8348. Giữ trên 6,60 thì xu hướng tăng trong kênh còn nguyên và có thể bật lại kiểm định 6,75 - 6,90; mất mốc này thì cần thận trọng với nhịp điều chỉnh về vùng đáy kênh 6,10 - 6,15.

Kinh tế vĩ mô
1. Lợi suất trái phiếu toàn cầu kỳ hạn 10 năm (Mỹ, Anh, Đức, Nhật Bản) đang ở mức cao nhất trong nhiều năm, và giao dịch chênh lệch lãi suất ngoại hối các thị trường mới nổi vừa có năm thứ hai liên tiếp đạt mức tăng trưởng trên 6% kể từ năm 2022. Áp lực tương tự đã đẩy giá vàng và kim loại đất hiếm lên mức lợi suất cao, dòng vốn đang tìm kiếm lợi nhuận đổ vào ngoại hối của các nước sản xuất hàng hóa.

2. Áp lực nợ Mỹ ngày càng trầm trọng: tổng nợ công hiện chỉ còn cách trần nợ luật định 41,1 nghìn tỷ đô la khoảng 1 nghìn tỷ, trong khi tỷ lệ nợ/GDP đã tăng vọt lên khoảng 125% - gần mức cao kỷ lục, từ khoảng 100% ngay sau khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Khi chạm trần nợ, Bộ Tài chính không thể phát hành thêm nợ mới mà phải dùng "các biện pháp đặc biệt" - các thủ thuật kế toán tạm thời - cho đến khi Quốc hội nâng hoặc đình chỉ giới hạn.
Nếu Quốc hội không hành động kịp trước khi các biện pháp này cạn kiệt, Mỹ có thể đối mặt nguy cơ vỡ nợ, gây gián đoạn nghiêm trọng thị trường tài chính và đóng cửa chính phủ → Washington đang tiến gần một cuộc đối đầu trần nợ mới.

3. Các điểm nghẽn dầu mỏ lớn nhất thế giới xếp theo lưu lượng vận chuyển trung bình hàng ngày: eo biển Malacca dẫn đầu với 23,2 triệu thùng, tiếp theo là eo biển Hormuz 20,9 triệu thùng, Mũi Hảo Vọng 9,1 triệu thùng, eo biển Đan Mạch và kênh đào Suez cùng ở mức 4,9 triệu thùng, Bab El-Mandeb 4,2 triệu thùng, eo biển Thổ Nhĩ Kỳ 3,7 triệu thùng và kênh đào Panama 2,3 triệu thùng. Đáng chú ý, hiện có 5 trong số 8 điểm nghẽn hàng đầu đang bị gián đoạn - mức độ chưa từng có tiền lệ.

5. CPI Tokyo bề ngoài bình thường nhưng chi tiết cho thấy áp lực thắt chặt lớn hơn nhiều: lạm phát tăng tốc tháng thứ ba liên tiếp dù chính phủ đang trợ cấp kéo giá năng lượng giảm 2% (xăng giảm 2,7%, điện giảm 2,4%).
Lạm phát lõi vẫn lên 1,8%, lạm phát lõi-lõi (loại trừ thực phẩm tươi và năng lượng) tăng trở lại 2%, với dịch vụ và tiền thuê nhà tăng nhanh nhất kể từ tháng 8/1994, thị trường lao động khan hiếm (thất nghiệp 2,4%, 118 vị trí trống/100 người nộp đơn) - đúng dạng lạm phát do tiền lương và dịch vụ trong nước mà BoJ theo đuổi nhiều năm.
Kịch bản cơ bản vẫn là BoJ tăng 25 điểm cơ bản lên 1,25% trong tháng Chín; CPI Tokyo không tự kích hoạt nhưng loại bỏ thêm lý do để chờ đợi, trong bối cảnh đồng yên yếu càng khiến vai trò nguồn vốn giá rẻ của Nhật Bản trở nên mong manh hơn nếu lãi suất tiếp tục tăng.

6. Nhu cầu nhà ở Mỹ sụt giảm mạnh: doanh số bán nhà mới tháng Bảy giảm 10,5% so với tháng trước xuống 607.000 căn, thấp nhất 6 tháng và tệ hơn nhiều dự báo giảm 1,4%, cũng là mức thấp nhất kể từ tháng 11/2022 (ngoại trừ tháng 1/2026). Doanh số giảm 3 trong 4 tháng gần đây, giảm 6,3% so với cùng kỳ. Khu vực Trung Tây bị ảnh hưởng nặng nhất với mức giảm 42,7% xuống 43.000 căn - thấp nhất kể từ 2012, trong khi miền Nam (chiếm hơn 60% tổng doanh số) giảm 13,0% xuống 383.000 căn. Lãi suất thế chấp 30 năm đạt 6,81%, cao nhất kể từ tháng 8/2025, càng gây áp lực lên nhu cầu trong bối cảnh giá nhà vẫn cao so với mức bình thường.

7. Báo cáo về lĩnh vực kinh tế đối ngoại mới nhất của IMF cho thấy cán cân tài khoản vãng lai toàn cầu đã mở rộng trở lại trong năm 2025, đảo ngược xu hướng thu hẹp sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Sự mở rộng này chủ yếu do Trung Quốc thúc đẩy, một phần được bù đắp bởi sự thu hẹp ở Mỹ và khu vực đồng euro.

Thị trường hàng hóa
1. Từ năm 1900, lượng tiêu thụ đồng toàn cầu đã tăng từ dưới 1 triệu tấn lên 28,4 triệu tấn hiện nay. S&P Global dự báo con số này sẽ đạt 42,3 triệu tấn vào năm 2040 và 53 triệu tấn vào năm 2050. Riêng Trung Quốc và khu vực châu Á - Thái Bình Dương chiếm khoảng 60% mức tăng trưởng nhu cầu đến năm 2040, được thúc đẩy bởi các trung tâm dữ liệu AI, quốc phòng và mở rộng lưới điện.
Với sản lượng khai thác mỏ chính dự kiến đạt đỉnh điểm khoảng 33 triệu tấn vào năm 2030 và việc xây dựng các mỏ mới mất từ 15 đến 20 năm, nguồn cung vật chất không thể điều chỉnh theo chu kỳ hàng quý.

2. Thế giới có thể cần 80 mỏ đồng mới vào năm 2040, ngay cả khi hoạt động tái chế được mở rộng. Đồng tái chế hiện cung cấp 32-35% nhu cầu toàn cầu, và hoạt động tái chế có thể giảm nhu cầu phát triển mỏ đồng trong tương lai khoảng 40% vào năm 2050.
Tuy nhiên, nhu cầu về đồng vẫn được dự báo sẽ tăng hơn 40% vào năm 2040, đòi hỏi tới 80 mỏ mới và 250 tỷ đô la đầu tư. Phần lớn nguồn cung cấp đồng tái chế vẫn đang bị ràng buộc trong các sản phẩm có tuổi thọ cao, có nghĩa là nguồn nguyên liệu tái chế mới đáng kể sẽ không có sẵn cho đến những năm 2030.

3. Dòng vốn vào vàng đang tăng gần tốc độ kỷ lục: tổng tài sản quản lý (AUM) của các quỹ ETF vàng toàn cầu tăng vọt 33 tỷ đô la trong tuần trước lên 615 tỷ đô la, cao nhất kể từ tháng Năm và gấp đôi mức tháng 1/2025. Các quỹ ETF vàng vật chất hút ròng 6,4 tỷ đô la trong tuần, mức lớn nhất kể từ tháng Một và lớn thứ ba trong lịch sử, đánh dấu tuần thứ 7 liên tiếp hút vốn với tổng cộng 16,4 tỷ đô la trong giai đoạn này. Bắc Mỹ dẫn đầu dòng vốn với 4,4 tỷ đô la, tiếp theo là châu Âu 1,7 tỷ đô la và châu Á 300 triệu đô la. Nhu cầu vàng chưa cho thấy dấu hiệu hạ nhiệt.

4. Hồi tháng Tư, chỉ số hàng hóa S&P GSCI chỉ đạt 0,81 lần so với S&P 500, thấp hơn nhiều mức trung bình lịch sử 3,87 lần, cho thấy hàng hóa đang rẻ tương đối so với cổ phiếu.





