Thị trường kim loại và năng lượng ngày 13/8 ghi nhận vàng duy trì đà tăng, trong khi thị trường dầu chịu tác động từ nguồn cung OPEC, diễn biến tại Hormuz và áp lực lạm phát liên quan đến giá năng lượng.
Diễn biến thị trường
1. Vàng đóng cửa ở mức 4.470,3 USD/ounce, tăng 0,06%, dao động 4.456,5–4.509,1 trong phiên.
Giá vận động trên SMA(20) tại 4.192,5, xác nhận xu hướng tăng từ đáy tháng 7, trong khi dải Bollinger Band trên tại 4.517,0 đang siết gần lại cho thấy đà tăng đã tiến sát biên trên. RSI(14) đạt 69,28, sát ngưỡng quá mua, cho thấy động lượng mua mạnh nhưng dư địa tăng tiếp không còn nhiều. Vùng hỗ trợ gần nhất 4.280–4.350, kháng cự gần nhất 4.580–4.650.
Giữ vững trên hỗ trợ và vượt kháng cự sẽ mở đường hướng về vùng 4.800–5.000; mất vùng 4.280 thì giá có nguy cơ quay lại kiểm định 4.100.

2. Bạc kết phiên với giá 65,565 USD/ounce, giảm 0,21%, dao động 65,220–66,450.
Giá trên SMA(20) tại 60,393, xác nhận phục hồi từ đáy tháng 7, còn cách dải Bollinger Band trên (66,434) nên dư địa tăng vẫn còn. RSI(14) ở mức 62,42, trung tính nghiêng tăng, chưa chạm quá mua. Hỗ trợ gần nhất là nền tích lũy 55–60, kháng cự gần nhất 68–70, xa hơn là 78–80.
Giữ trên 60 và vượt 68–70 sẽ hướng lên 78–80; mất vùng 60 thì quay lại kiểm định nền 55–60.

3. Bạch kim đóng cửa ở ngưỡng 1.758,7 USD/ounce, giảm 0,60%, dao động 1.754,4–1.777,7.
Giá trên SMA(20) tại 1.678,0, xác nhận phục hồi sau đáy tháng 7 quanh 1.550–1.650, còn cách dải Bollinger Band trên (1.807,6). RSI(14) ở mức 59,32, trung tính, chưa có tín hiệu quá mua. Kháng cự gần nhất 1.780–1.820, xa hơn là 2.150–2.200; hỗ trợ gần nhất là nền 1.550–1.650.
Vượt kháng cự 1.780–1.820 sẽ củng cố xu hướng phục hồi hướng lên 2.150; suy yếu dưới 1.700 thì quay về nền cũ.

4. Đồng đóng cửa ở mức 6,5575 USD/pound, giảm 0,88%, dao động 6,5540–6,6245.
Giá vẫn trên SMA(20) tại 6,4989 nhưng đã lùi khỏi dải Bollinger Band trên (6,7723) sau khi kiểm định vùng đỉnh, phản ánh nhịp điều chỉnh trong xu hướng tăng chính. RSI(14) ở mức 54,80, vừa cắt xuống dưới đường tín hiệu 58,23, cho thấy động lượng chững lại. Hỗ trợ gần nhất 6,10–6,25, kháng cự gần nhất 6,70–6,78.
Giữ trên hỗ trợ thì nhịp điều chỉnh chỉ mang tính kỹ thuật và có thể quay lại thử 6,70–6,78; mất vùng 6,10 thì xu hướng tăng trung hạn bị đe dọa rõ hơn.

Kinh tế vĩ mô
1. Nợ hộ gia đình Mỹ giảm 13 tỷ đô la trong quý 2/2026, xuống còn 18,77 nghìn tỷ đô la, mức cao thứ ba trong lịch sử, đánh dấu lần sụt giảm theo quý đầu tiên kể từ đại dịch năm 2020. Tuy vậy tính từ cuối năm 2019 đến nay, tổng nợ hộ gia đình vẫn tăng thêm 4,63 nghìn tỷ đô la.
Mức giảm của quý 2 chủ yếu đến từ nợ thế chấp nhà, giảm 74 tỷ đô la xuống 13,12 nghìn tỷ đô la, cùng với dư nợ vay sinh viên giảm 7 tỷ đô la xuống 1,65 nghìn tỷ đô la, thấp nhất kể từ quý 2/2025. Ngược lại, nợ thẻ tín dụng tăng 21 tỷ đô la lên 1,26 nghìn tỷ đô la, mức cao thứ hai trong lịch sử, còn nợ vay mua ô tô tăng 28 tỷ đô la lên 1,71 nghìn tỷ đô la, mức cao kỷ lục.

2. Sản lượng xe điện và các loại xe năng lượng mới khác của Trung Quốc đã tăng hơn gấp đôi trong ba năm qua. Sản lượng tăng tốc lên 1,6 triệu chiếc vào tháng 6 năm 2026, tăng từ 1,2 triệu chiếc một năm trước đó và chỉ 0,7 triệu chiếc vào tháng 6 năm 2023.
Việc triển khai xe năng lượng mới trên quy mô lớn đang nhanh chóng làm thay đổi cơ cấu đội xe. Xe năng lượng mới dự kiến sẽ chiếm khoảng một phần tư tổng số xe đăng ký vào cuối thập kỷ này.

3. Giá bảo hiểm doanh nghiệp tại Mỹ giảm lần đầu tiên sau 9 năm, với phí bảo hiểm tài sản và trách nhiệm dân sự thương mại giảm 1,2% trong quý 1/2026, chính thức chấm dứt chuỗi tăng liên tục 33 quý liền và đánh dấu lần giảm đầu tiên kể từ quý 3/2017.
Dù vậy, tính từ năm 2017 đến nay tổng phí bảo hiểm ròng tài sản và trách nhiệm dân sự tại Mỹ đã tăng từ khoảng 560 tỷ lên khoảng 980 tỷ đô la, tương đương mức tăng 74%. Như vậy bất chấp đợt đảo chiều gần đây, phí bảo hiểm vẫn là một nguồn áp lực chi phí lớn đối với doanh nghiệp Mỹ.

4. Theo các báo cáo, ADNOC đang đề xuất phương án vận chuyển dầu thô Iraq qua eo biển Hormuz bằng các chặng ngắn dùng tàu "không hoạt động" (dark) kết hợp chuyển tải giữa các tàu bên ngoài khu vực Vịnh, trong khi SOMO chào mức chiết khấu sâu tới 25-30 đô la một thùng cho những người mua chấp nhận rủi ro vận chuyển.
Từ ngày 5 đến 8/8, một số tàu chở dầu cỡ lớn (VLCC) của Sinokor ngừng hoạt động và bị gắn cờ nghi vấn vận chuyển không an toàn. Tính cả các hoạt động đã xác nhận, lưu lượng xuất khẩu dầu thô bình quân 7 ngày hiện đạt 6,3 triệu thùng/ngày; nếu 4 hoạt động chuyển tải giữa tàu (STS) hiện chưa được xác thực qua vệ tinh sau đó được xác nhận, con số này có thể tăng lên 7,4 triệu thùng/ngày.
Diễn biến này cho thấy luồng vận chuyển đang thích ứng với gián đoạn, nhưng đi kèm chi phí chiết khấu và rủi ro vận hành tăng cao.

5. Sản lượng OPEC tháng 7: Sản lượng dầu thô của OPEC tăng lên 23,6 triệu thùng/ngày, trong khi OPEC+ đạt 37,65 triệu thùng/ngày, vẫn thấp hơn mục tiêu 6,9 triệu thùng/ngày. Ả Rập Xê Út và Iraq đóng góp phần lớn vào sự phục hồi này, trong khi Nga vẫn thấp hơn hạn ngạch gần 1 triệu thùng/ngày.
| Khu vực | Sản lượng tháng 7 | Thay đổi so với kỳ trước |
| Tổng sản lượng OPEC | 23,6 triệu thùng/ngày (bpd) | +1,66 triệu bpd |
| Tổng sản lượng OPEC+ | 37,65 triệu bpd | 1,4 triệu bpd |
| Ả Rập Xê Út | 8,2 triệu bpd | +1,1 triệu bpd |
| Nga | 8,887 triệu bpd | -1,0 triệu bpd |
| Iraq | 2,621 triệu bpd | +665 nghìn bpd |
6. Năng lượng chiếm hơn 7% rổ CPI Mỹ; trong kỳ báo cáo đầu tiên sau khi chiến tranh Iran nổ ra, cấu phần này tăng 10,9% chỉ trong một tháng, kéo CPI tổng thể tăng 0,87%, chỉ thấp hơn đỉnh năm 2022.
Khu vực đồng euro còn nóng hơn, giá tiêu dùng tăng 1,2% theo tháng (tương đương 15,4% theo năm), vượt đỉnh 11,5% của làn sóng lạm phát 2021-2023.
Theo mô hình FRB/US của Fed, mức tăng 10 đô la giá dầu tương ứng 0,2 điểm phần trăm lạm phát nếu tính riêng tác động trực tiếp, và 0,35 điểm phần trăm nếu tính cả tác động gián tiếp. Kỳ gần nhất chỉ số năng lượng giảm 1,5% so với tháng trước, trong đó nhà ở đóng góp khoảng hai phần ba mức giảm. Do năng lượng hiện diện trong hầu hết mọi sản phẩm và dịch vụ, một cú sốc năng lượng thường không chỉ tác động một lần mà lan tỏa và kéo dài theo lịch trình riêng.

Thị trường hàng hóa
1. Trung Quốc không "cố tình" theo đuổi thặng dư thương mại lớn hơn — vấn đề nằm ở chỗ Mỹ không thể vừa giữ vị thế thống trị của đồng đô la trong dự trữ ngoại hối toàn cầu, vừa ngăn Trung Quốc dùng nhập khẩu vàng để cân bằng cán cân thương mại.
Nếu Mỹ không chấp nhận để giá trị hay vị thế của đồng đô la suy giảm, thặng dư thương mại của Trung Quốc sẽ còn tiếp tục nới rộng. Lựa chọn chỉ có hai: giữ vị thế thống trị của đồng đô la, hoặc đưa nền công nghiệp trở lại trong nước.

2. Tỷ trọng xuất khẩu nguyên liệu thô quan trọng của châu Âu, theo từng giai đoạn. Khai thác không bao giờ vượt quá 6,7%. Tái chế đạt 48,3% đối với than chì và lithium. Trung Quốc nắm giữ 60% sản lượng đất hiếm và 90% hoạt động tinh chế. Vị thế của châu Âu nằm ở phế liệu, chứ không phải ở lòng đất. Bản tóm tắt chính sách 15/2026,

3. Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc chính thức nối lại mua vàng vật chất sau 13 năm gián đoạn, thông qua thỏa thuận mua lại vàng sản xuất nội địa từ LS MnM và Korea Zinc, đồng thời đã âm thầm mua ETF vàng từ quý 2. ước tính hai công ty này sản xuất khoảng 40-45 tấn mỗi năm dành cho xuất khẩu, và BOK dự kiến mua lại 4-5 tấn trong số đó, thanh toán bằng won theo giá thị trường quốc tế.
Động thái diễn ra trong làn sóng gom vàng kỷ lục của khối ngân hàng trung ương toàn cầu, nhằm đa dạng hóa nơi lưu trữ dự trữ vốn từ trước đến nay gần như tập trung hoàn toàn tại Ngân hàng Trung ương Anh.




